Trang chủ NVHTN  
Trang chủ Việt Nam quê hương tôi
Quốc kỳ quốc ca
 Lịch sử quốc kỳ
 Lịch sử quốc ca
 Quốc Huy
 Tuyên ngôn Độc lập
 Hiến pháp
 Chào cờ
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
 Huy Hiệu Đoàn
 Đoàn ca
 Lịch sử Đoàn TNCS Tp.HCM
Các Triều Đại Việt Nam
 Việt Nam quốc hiệu
 Lược sử Việt Nam
 Nhân vật Lịch sử
Tự hào lịch sử Việt Nam
 Trận đánh Ngọc Hồi - Đống Đa
 Chiến dịch Mậu thân 1968
 Mười bông hoa Đồng Lộc
 Các chiến lược của Mỹ can thiệp & xâm lược Việt Nam
 Lý Thường Kiệt - Trận chiến Như Nguyệt
Gia thế về Hồ Chí Minh
 Bên nội
Hình ảnh tư liệu về Bác Hồ
 Hình ảnh (Phần 1)
 Hình ảnh (Phần 2)
 Hình ảnh (Phần 3)
Những ngày lễ trong năm
 Tháng 01
 Tháng 02
 Tháng 03
 Tháng 04
 Tháng 05
 Tháng 06
 Tháng 07
 Tháng 08
 Tháng 09
 Tháng 10
 Tháng 11
 Tháng 12
Trường Sa, Hoàng Sa
 Chủ quyền lãnh thổ là không thể nhân nhượng
 Hải đội Hoàng Sa
 Tình yêu người lính đảo
 Ngày trở về của lính đảo
 Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam
Truyền thuyết, cổ tích
 Sự tích Hoa Mai vàng
 Truyền thuyết Thánh Gióng
64 tỉnh thành Việt Nam
 Giới thiệu 64 tỉnh thành Việt Nam
Download
Quốc ca Download
HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN
Administrator
Đào tạo
http://sinhvienktcn.net
Lý Thường Kiệt - Trận chiến Như Nguyệt 

LÝ THƯỜNG KIỆT (1019-1105)

Người chỉ huy kiệt xuất, anh hùng của cuộc kháng chiến chống Tống. Ông họ Ngô, tên Tuấn, tự là Thường Kiệt, quê ở Gia Lâm, Hà Nội, con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, theo gia đình sang ngụ ở phường Thái Hòa (Hà Nội ).

Thuở trẻ, mặt mũi khôi ngô, sáng sủa, thông minh, ông sớm chăm đọc sách binh thư, luyện tập võ nghệ. Thời Lý Thái Tông làm Hoàng môn chi hậu (chức quan trong cung vua ), sau đó thăng lên chức Đô Tri Nội thị sảnh. Sang thời vua Lý Thánh Tông, ông giữ chức Thái bảo Cấm “Tiết Việt” đi thanh tra quan lại vùng Hoan - Ái (Thanh - Nghệ). Năm 1069, được cử làm tướng tiên phong, theo vua Thánh Tông đi đánh Champa, lập nhiều công lớn. Thắng lợi trở về, ông được phong Thái úy, tước Khai quốc công và Ban Quốc Tín (do đó có tên Lý Thường Kiệt).

Nhà Tống ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta đúng vào lúc Lý Thánh Tông mất, Lý Nhân Tông lên ngôi mới 6 tuổi. Bà Thái hậu Ỷ Lan bèn giao cho ông tổ chức cuộc kháng chiến, bảo vệ Tổ Quốc. Trong cuộc hợp bàn, ông đã chủ trương táo bạo: “Ngồi yên đợi giặc sao bằng đem quân đánh trước để chặn mũi nhọn của giặc”, được mọi người tán đồng. Một mặt ông đề nghị Thái hậu mời Lý ĐạoThành về giúp việc nội trị, giữ vững sự thống nhất trong triều; mặt khác lệnh cho các thủ lĩnh dân tộc vùng biên ải chuẩn bị tham gia cuộc chiến đấu “ tiên pháp chế nhân”.

Năm 1075, cuộc hành quân lên Bắc theo 2 hướng Bắc và Đông Bắc bắt đầu. Trên đường qua châu Khâm, châu Liêm (Quảng Đông, Trung Quốc), ông cho dán các tớ “lộ bố” nói rõ mục tiêu của cuộc hành quân là cứu giúp nhân dân Hoa Nam khỏi họa “ Thanh Miêu”, “Trợ dịch”, đập tan sự chuẩn bị xâm lược Đại Việt của nhà Tống. Ông cũng lệnh cho quân sĩ không được đụng đến chân tơ kẽ tóc của dân, nhờ đó quân của ông đi đến đâu đều được nhân dân Hoa Nam ủng hộ, thậm chí còn gọi ông là “cha họ Lý”. Sau đó, quân ta từ 2 phía bao vây Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Đông), nơi tập quân của nhà Tống. Ung châu thất thủ, ông cho phá hết kho tàng vũ khí, lương thảo rồi cho rút quân về nước.

Biết giặc thế nào cũng tiến sang đánh trả thù, ông cùng quân dân bố trí phòng thủ cẩn mật ở vùng biên giới và xây chiến tuyến vững chắc ở vùng nam sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chặn giặc. Năm 1077, hơn 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy tràn vào nước ta theo 2 đường thủy và bộ. Một mặt ông cho giữ thật vững chiến tuyến Như Nguyệt (sông cầu, Yên Phong, Bắc Ninh), mặt khác cho quân phục kích đánh tan đạo thủy quân của địch ở vùng sông Bạch Đằng.

Bị chặn đứng ở phía bắc sông Như Nguyệt, Quách Quỳ vừa chờ thủy quân, vừa cho quân đánh sang mấy lần. Thất bại, bí kế, Quách Quỳ đành đóng quân lại chờ. Thời cơ đến, Lý Thường Kiệt cho quân mở cuộc phản công lớn, tuy có tổn thất nhưng tiêu diệt được 6,7 phần 10 quân địch. Biết địch đã tuyệt vọng, ông bèn cho người sang thương lượng giải hòa, giặc rút hết quân về nước. Cuộc kháng chiến thắng lợi huy hoàng, uy tín của ông tăng lên, Lý Nhân Tông nhận ông là “Thiên tử nghĩa đệ”, phong thưởng cho ông rất hậu. Sau đó, ông được cử vào coi việc ở Ái Châu (Thanh Hóa). Người đương thời đã ca ngợi ông: “Trong thì sáng suốt, khoan hòa ngoài thì nhân từ giản dị, làm việc thì siêng năng….Biết dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, nên không để lở thời vụ, tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng cả người già….dùng uy vũ để trừng trị bọn gian ác, đem minh chính để giải quyết ngục tụng… giúp chính sự cho 3 triều dẹp yên loạn ngoài biên ải… công thật lớn lao”. Năm 1104, ông đã 85 tuổi nhưng vẫn sẵn sàng nhận lệnh cầm quân đánh tan cuộc tiến công xâm lấn phương Nam của vua Champa.


Mùa hè năm 1105, ông mất. Vua Lý vô cùng thương tiếc, truy tặng ông chức Kiểm hiệu Thái úy Bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt Quốc Công
 

  TRẬN NHƯ NGUYỆT

(18-1-1077 đến 3-1077)
---o0o---

1. Tình hình chung:

  • Hình thức : phòng ngự- phản công.

  • Không gian: nam, bắc sông như nguyệt( sông cầu, hà bắc)

  • Thời gian: từ ngày 18-1-1077 đến đầ tháng 3-1077

  • Lực lượng tham chiến:

  • Ta: khoảng 10 vạn quân, có 2van5 quân thủy.

  • Địch: 10 vạn quân tác chiến, 20 vạn quân bổ trợ.

    Kết quả: Ta tiêu diệt đại bộ phận quân tác chiến (8 vạn tên) và một phần quân tiếp lương, bổ trợ, phục vụ (7 vạn tên ), đánh bại cuộc xâm lược nước ta của nhà Tống, buộc chúng phải rút lực lượng còn lại về nước, thừa nhận nền độc lập của nước ta.

2. Diễn biến chính:

Sau thất bại cuối thế kỉ thứ 10, nhà Tống lại tích cực chuẩn bị chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa. Vì vậy, Lý Thường Kiệt đã chủ động đưa quân sang các châu Ung-Khâm-Liêm phá tan sự chuẩn bị của địch, rồi rút về nước chuẩn bị sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công của chúng.

Lý Thường Kiệt đã phán đoán và đánh giá đúng cuộc tiến công của địch. Kế hoạch đối phó của ông là: đánh bại cánh quân đường thủy, không cho chúng hợp quân với đường bộ; bố trí lực lượng các đội thổ binh của phò mã Thân Cảnh Phúc và lực lượng dân binh đánh chặn địch từng bước trên tấc cả các cửa ải ở biên giới và xây dựng chiến tuyến nam sông Như Nguyệt (sông cầu) để phòng ngự, nhằm chặn đứng cuộc chiến công của quân Tống. Tại đây, quân ta phải thiết kế lại tuyến phòng ngự dài 80km, xác định các khu phòng ngự then chốt, bố trí binh lực  thành các lực lượng “trú chiến” (phòng ngự tại chỗ) và “thác chiến” ( tiến công cơ động, làm nhiệm vụ phản kích, phản công ).

Đúng như dự đoán, ngày 8-1-1077 quân xâm lược Tống tiến vào nước ta theo 2 ngả ở biên giới phía bắc và một  ngả theo đường biển đông bắc. Ở phía  bắc quân địch đã bị các lực lượng thổ binh ta chặ đánh, vừa tiêu hao, vừa làm trì hoãn bước tiến chúng. Địch phải tiến công vất vả, nhất là trước các cửa ải Quyết Lí, Chi Lăng, và đến ngày 18-1 mới đến bờ sông Như Nguyệt, đóng thành hai cụm quân: cụm Quách Quỳ và cụm Triệu Tiết. Trong khi đó ở vùng biển đông bắc, quân thủy của ta do Lý Kế Nguyên chỉ huy đã đánh bật về phía sau đạo quân thủy của Dương Tùng Tiên, loại hẳn lực lượng này ra khỏi vòng chiến.

Sau khi tập trung lực lượng tiến hành trinh sát, một đêm đầu tháng 2, Quách Quỳ bắt cầu phao, tung kỵ binh vượt sông đánh vào trận địa ta. Chúng đột phá qua dải phòng ngự tiến về phía Thăng Long, nhưng lập tức bị chặn lại khi cách Thăng Long khoảng 8km. Đồng thời ta tung kỵ binh đột kích cạnh sườn, địch bị rối loạn đội hình, một phần lớn bị tiêu diệt, còn một phần vội vã tháo chạy về phía bắc. Đợt tiến công của địch bị đẩy lùi.

Sau đó Quách Quỳ định mở đợt tiến công thứ hai. Nhưng vì phương tiện thiếu, lại chỉ có thể vượt sông trên hai thủy đoạn hẹp (bến Thủy Cầu và bến Như Nguyệt ), nên cuộc tiến công thứ 2 của chúng bị thất bại. Địch buộc phải chuyển vào phòng ngự lâm thời chờ cơ hội. Chúng bố trí thành 2 tập đoàn: Quách Quỳ ở bắc Thị Cầu và Triệu Tiết ở bắc Như Nguyệt.

Nắm cơ hội địch đã bị tiêu hao, mệt mỏi, cạn đường tiếp tế qua 2 tháng chiến đấu, Lý Thường Kiệt quyết định tung ra đòn phản công mạnh, nhằm kết thúc chiến tranh.

Một đêm tháng 3, 400 chiếc thuyền của quân ta ngược dòng sông Như Nguyệt bất ngờ đánh vào cụm quân Quách Quỳ từ hướng đông. Trong khi cụm quân này đang mãi đối phó, Lý Thường Kiệt nắm đại quân vượt sông đánh thẳng vào đại quân Triệu Tiết. Địch bị bất ngờ, bị ta chia cắt thành từng mảng rồi bị tiêu diệt. Thừa thắng, từ hướng tây bắc, Lý Thường Kiệt kéo chủ lực vu hồi vào đội quân Quách Quỳ (cách đó 30km ). Địch lại một lần nữa bị bất ngờ, phải đối phó trên 2 hướng, cuối cùng phải phá vây chạy về hướng bắc. Đạo quân của Thân Cảnh Phúc chặn ở Chi Lăng, còn đại quân ta phía sau truy kích theo. Địch bị tiêu diệt đại bộ phận và buộc phải rút hết quân về nước.

       

   Bách Khoa Tri Thức - Quốc phòng toàn dân


Quốc kỳ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam
Dien dan
Quốc Huy
Huy hiệu Đoàn
 
Bản quyền 2007 thuộc NVHTN dưới sự hỗ trợ hosting của Trung Tâm Truyền Số Liệu Khu Vực 2 ( VDC2). Thiết kế bởi SGC
04 Phạm Ngọc Thạch, Phường Bến Nghé, Q.1, TP.HCM. Điện Thoại: 38.294.345.
Giấy phép số: 384/GP-BC. Chịu trách nhiệm: Ông Bùi Thanh Liêm