Trang chủ NVHTN  
Trang chủ Việt Nam quê hương tôi
Quốc kỳ quốc ca
 Lịch sử quốc kỳ
 Lịch sử quốc ca
 Quốc Huy
 Tuyên ngôn Độc lập
 Hiến pháp
 Chào cờ
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
 Huy Hiệu Đoàn
 Đoàn ca
 Lịch sử Đoàn TNCS Tp.HCM
Các Triều Đại Việt Nam
 Việt Nam quốc hiệu
 Lược sử Việt Nam
 Nhân vật Lịch sử
Tự hào lịch sử Việt Nam
 Trận đánh Ngọc Hồi - Đống Đa
 Chiến dịch Mậu thân 1968
 Mười bông hoa Đồng Lộc
 Các chiến lược của Mỹ can thiệp & xâm lược Việt Nam
 Lý Thường Kiệt - Trận chiến Như Nguyệt
Gia thế về Hồ Chí Minh
 Bên nội
Hình ảnh tư liệu về Bác Hồ
 Hình ảnh (Phần 1)
 Hình ảnh (Phần 2)
 Hình ảnh (Phần 3)
Những ngày lễ trong năm
 Tháng 01
 Tháng 02
 Tháng 03
 Tháng 04
 Tháng 05
 Tháng 06
 Tháng 07
 Tháng 08
 Tháng 09
 Tháng 10
 Tháng 11
 Tháng 12
Trường Sa, Hoàng Sa
 Chủ quyền lãnh thổ là không thể nhân nhượng
 Hải đội Hoàng Sa
 Tình yêu người lính đảo
 Ngày trở về của lính đảo
 Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam
Truyền thuyết, cổ tích
 Sự tích Hoa Mai vàng
 Truyền thuyết Thánh Gióng
64 tỉnh thành Việt Nam
 Giới thiệu 64 tỉnh thành Việt Nam
Download
Quốc ca Download
HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN
Administrator
Đào tạo
http://sinhvienktcn.net
Chủ quyền lãnh thổ là không thể nhân nhượng 

Thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng: "Chủ quyền lãnh thổ là không thể nhân nhượng" 

Nhân dịp tỉnh Lào Cai hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên thực địa với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, ông Vũ Dũng, Thứ trưởng Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia đã trả lời phỏng vấn báo chí về các vấn đề về chủ quyền lãnh thổ và quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam - Trung Quốc.

* Xin ông cho biết ý nghĩa của việc hoàn thành phân giới cắm mốc (PGCM) biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc tại địa bàn tỉnh Lào Cai?

- Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng: Với việc cắm cột mốc số 144 tuần qua, công tác PGCM trên tuyến biên giới của tỉnh Lào Cai của Việt Nam với tỉnh Vân Nam của Trung Quốc đã kết thúc thắng lợi. Lào Cai trở thành tỉnh đầu tiên trong bảy tỉnh biên giới phía bắc nước ta hoàn thành nhiệm vụ mang tính lịch sử quan trọng này. Sự kiện này có tác dụng lan tỏa tích cực đối với cả khu vực biên giới Việt - Trung và mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước.

Từ nay, đường biên giới của tỉnh Lào Cai đã được xác định rõ ràng và được đánh dấu bằng một hệ thống mốc giới hiện đại trên thực địa, tạo cơ sở để các ngành chức năng tiến hành quản lý biên giới một cách hiệu quả, góp phần gìn giữ sự ổn định ở khu vực biên giới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu hợp tác, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế - thương mại giữa tỉnh Lào Cai và tỉnh Vân Nam nói riêng và giữa Việt Nam với Trung Quốc nói chung.

Lào Cai hoàn thành PGCM cũng sẽ cổ vũ, khích lệ công tác PGCM trên toàn tuyến biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc. Các bài học và kinh nghiệm của Lào Cai sẽ được các tỉnh khác tham khảo, học tập để đẩy nhanh tiến độ PGCM nhằm hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử này trong sáu tháng đầu năm 2008.

Có thể coi đây là "bông hoa đẹp" của quan hệ hợp tác, hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc nói chung và Lào Cai nói riêng, góp phần xây dựng đường biên giới Việt - Trung thật sự trở thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển.

* Xin ông cho biết thực trạng tình hình PGCM trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc và khả năng hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ này trước tháng 6-2008?

- Biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc dài khoảng 1.400 km. Hai bên thống nhất cắm khoảng 1.800 cột mốc, trong đó có 1.533 mốc chính và gần 300 mốc phụ.

Kể từ khi cắm mốc giới đầu tiên tại cặp cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) và Ðông Hưng (Quảng Tây) cuối năm 2001, trải qua hơn sáu năm bền bỉ phấn đấu, khắc phục muôn vàn khó khăn, gian khổ, đến nay các lực lượng PGCM của hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã hoàn thành hơn 85% khối lượng công việc PGCM trên thực địa, đồng thời đã khẩn trương tiến hành nghiệm thu thành quả PGCM, đăng ký mốc giới, mô tả hướng đi của đường biên giới, hoàn chỉnh bản đồ đính kèm Nghị định thư PGCM...

Ngoài Lào Cai, các tỉnh Lai Châu, Quảng Ninh cũng đã hoàn thành hơn 95% công việc, nhóm PGCM số sáu thuộc tỉnh Hà Giang cũng vừa hoàn thành toàn bộ công việc trên thực địa.

Mặt khác, để đẩy nhanh tiến độ PGCM, vừa qua, tại Hà Nội, hai Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ đàm phán về biên giới lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc đã nhất trí một số biện pháp quan trọng để đẩy nhanh tiến độ PGCM như tăng cường lực lượng PGCM, ưu tiên ổn định cuộc sống bình thường của cư dân biên giới, dỡ bỏ tất cả các công trình nằm trên đường biên giới, kể cả các công trình quân sự... để tạo thuận lợi cho PGCM.

* Một số mạng nước ngoài đưa tin rằng Việt Nam bị mất đất. Ông có bình luận gì về ý kiến này?

- Chủ quyền lãnh thổ là vấn đề hết sức thiêng liêng đối với bất kỳ quốc gia, dân tộc nào. Ðối với dân tộc Việt Nam thì chủ quyền lãnh thổ lại càng thiêng liêng cao cả. Dân tộc ta từ nghìn xưa đã chiến đấu, hy sinh để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Gần tám thập kỷ qua, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Bác Hồ kính yêu, đã đi qua những cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ, chịu đựng những hy sinh, mất mát to lớn để giữ vững chủ quyền lãnh thổ của mảnh đất thân yêu này.

Trong đàm phán với Trung Quốc và các nước láng giềng khác cũng như trong quá trình PGCM trên thực địa, chúng ta đều đã thể hiện hết sức rõ ràng lập trường bất di bất dịch, đó là: chủ quyền lãnh thổ là vấn đề mang tính nguyên tắc, không thể nhân nhượng. Vì vậy, không thể có chuyện "Việt Nam mất đất", "cắt đất" cho nước này, nước kia như một số mạng nước ngoài đưa tin.

Chỉ có thể giải thích rằng những mạng này hoặc do thiếu thông tin hoặc cố tình làm sai lệch thông tin vì những ý đồ khác nhau.

Việt Nam và Trung Quốc khởi động đàm phán về vấn đề biên giới trên bộ và Vịnh Bắc Bộ từ năm 1974. Năm 1991, hai bên ký Hiệp định tạm thời về việc giải quyết các công việc trên vùng biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, năm 1993, ký tiếp Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước; theo đó, về biên giới trên bộ, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, cam kết tôn trọng đường biên giới lịch sử theo các Công ước Pháp - Thanh 1887 và 1895 để lại. Ngày 30-12-1999, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệp ước biên giới trên đất liền.

Vì vậy, có thể nói Hiệp ước 30-12-1999 là kết quả của quá trình đàm phán kiên trì trong rất nhiều năm giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hiệp ước đã phản ánh đầy đủ, hoàn chỉnh nhất đường biên giới lịch sử để lại theo những nguyên tắc đã nói ở trên.

* Gần đây có nhiều dư luận khác nhau về việc phân định khu vực thác Bản Giốc và khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, xin Thứ trưởng cho biết ý kiến về vấn đề này?

- Như trên tôi đã nói, căn cứ quan trọng nhất để xây dựng Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc là các Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895. Do hạn chế của điều kiện lịch sử, các văn bản pháp lý về hoạch định và PGCM giữa Pháp và nhà Thanh có những điểm quy định không rõ ràng. đường biên giới được vẽ trên bản đồ tỷ lệ lớn từ 1/20.000 đến 1/500.000, có nghĩa một mi-li-mét trên bản đồ tương đương với từ 20m đến 500m trên thực địa. Hơn nữa, địa hình trên bản đồ không hoàn toàn phù hợp với địa hình trên thực địa, nên rất khó xác định hướng đi của đường biên giới tại các khu vực này. Chính vì vậy tại các khu vực này đã xảy ra tranh chấp rất phức tạp và kéo dài.

Tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, theo các văn bản pháp lý lịch sử, đường biên giới luôn nằm phía nam Ải Nam Quan. Trấn Nam Quan do Trung Quốc xây dựng vẫn thuộc Trung Quốc, chứ không phải đường biên giới đi qua Ải Nam Quan như một số người vẫn hiểu.

Thác Bản Giốc gồm hai phần: phần thác cao hoàn toàn thuộc Việt Nam, không có tranh chấp; phần thác thấp gắn liền với sông Quây Sơn. Theo Công ước Pháp - Thanh, đường biên giới đi giữa sông Quây Sơn đến thác và mốc 53 nằm phía trên thác đánh dấu sự chuyển hướng đường biên giới từ sông lên bờ. Hiện nay ta và Trung Quốc chưa PGCM đoạn biên giới khu vực này nhưng có thể khẳng định phần thác cao hoàn toàn thuộc Việt Nam, phần thác thấp sẽ được phân giới theo luật pháp và tập quán quốc tế về trung tuyến dòng chảy hoặc trung tuyến tàu thuyền đi lại được, hoàn toàn không có chuyện Việt Nam mất thác Bản Giốc như một số người nói. Hàng triệu lượt khách du lịch đến thác Bản Giốc đều biết rất rõ điều này.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, về tổng thể, các giải pháp đạt được trong việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền nói chung và đối với hai khu vực cụ thể nói trên là thỏa đáng, đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên.

* Vừa qua dư luận đã thể hiện thái độ bức xúc trước việc Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, xin Thứ trưởng bình luận về vấn đề này?

- Chính phủ ta đã tỏ thái độ rất rõ ràng về việc thành lập thành phố "Tam Sa". Ðây là việc làm không phù hợp với thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước, với tinh thần và lời văn của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Ðông (DOC).

Lãnh đạo cấp cao Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã có những biện pháp kịp thời đối với việc làm sai trái này. Chúng ta sẽ tiếp tục giao thiệp trực tiếp, chính thức với phía Trung Quốc về vấn đề này, cố gắng giải quyết vấn đề thông qua đàm phán hữu nghị trên tinh thần hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, có lý, có tình.

Chúng ta có đầy đủ bằng chứng pháp lý và lịch sử để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Một đảo lớn trong quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã ngang nhiên xây sân bay trên đảo. Ảnh: TT

* Nhân đây, xin Thứ trưởng cho biết đôi nét về tình hình quan hệ Việt - Trung hiện nay?

- Quan hệ Việt - Trung từ sau bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Trung Quốc đã trở thành đối tác toàn diện rất quan trọng của Việt Nam. Lãnh đạo hai nước đã thường xuyên gặp gỡ, trao đổi và đạt được nhiều nhận thức chung rất quan trọng có liên quan đến tất cả các lĩnh vực quan hệ hai nước trên tinh thần tin cậy, hợp tác hữu nghị, cùng phát triển.

Liên quan đến biên giới lãnh thổ, lãnh đạo cấp cao hai nước đã thỏa thuận sớm hoàn thành PGCM biên giới trên bộ như đã nói ở trên. Về trên biển, hai bên cam kết thông qua đàm phán hòa bình giải quyết các vấn đề tồn tại, tìm kiếm một giải pháp cơ bản, lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, phù hợp luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Ðông (DOC), không có các hành động làm phức tạp thêm tình hình.

Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam - Trung Quốc có bước phát triển lớn. Trong nhiều năm liền, Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam (riêng năm 2007, kim ngạch buôn bán hai chiều dự kiến đạt hơn 14 tỷ USD). Ðầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam tuy chưa tương xứng với tiềm năng nhưng đang tăng với tốc độ khá cao. Ðặc biệt, với việc triển khai thực hiện dự án "hai hành lang, một vành đai kinh tế" đã được Lãnh đạo cấp cao hai nước thỏa thuận và nhiều dự án lớn khác về hạ tầng cơ sở như cải tạo, nâng cấp một số đoạn đường bộ và đường sắt, xây dựng một số cầu cảng, nhà máy điện..., Trung Quốc có thể sẽ trở thành một trong những nhà đầu tư lớn tại Việt Nam trong tương lai không xa.

Về du lịch, Trung Quốc là thị trường nguồn lớn nhất của Việt Nam với lượng khách từ Trung Quốc mỗi năm đạt từ 600.000 đến 800.000 lượt người và có thể tăng nhanh trong vài năm tới. Trung Quốc cũng đang là một trong những nước cung cấp tín dụng ưu đãi dài hạn cho Việt Nam để xây dựng các dự án hạ tầng cơ sở và công nghiệp. Quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực khác, kể cả quốc phòng, an ninh, cũng đang phát triển ngày thêm chặt chẽ. Hai nước đã và đang phối hợp với nhau rất tốt trên nhiều vấn đề khu vực và quốc tế.

Ðối với vấn đề biên giới lãnh thổ, ngoài công tác PGCM như đã nói ở trên, trong Vịnh Bắc Bộ, hai nước đã phối hợp triển khai có hiệu quả hai hiệp định là Hiệp định phân định và Hiệp định hợp tác nghề cá; hải quân hai nước đã tiến hành nhiều cuộc tuần tra chung trong Vịnh; Tập đoàn dầu khí hai nước đã hoàn thành công tác khảo sát địa chấn chung trong Vịnh, số vụ vi phạm giảm một cách đáng kể. Hai nước cũng đã tiến hành ba vòng đàm phán về phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và 11 vòng đàm phán về các vấn đề trên biển.

Mới đây nhất, trong cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa hai Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về biên giới lãnh thổ, hai bên đã thỏa thuận tăng cường hợp tác trên biển, trước mắt trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như nghiên cứu khoa học biển, phòng, chống thiên tai, phòng, chống tội phạm trên biển, đối xử nhân đạo với ngư dân hai nước.

Những kết quả đạt được nói trên cho thấy, cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc đều đã có những cố gắng giữ gìn và vun đắp cho mối quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt - Trung, vì lợi ích chung hai nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Phát triển mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt - Trung là trách nhiệm và lợi ích của cả Việt Nam và Trung Quốc. Hai nước cần đứng trên tầm cao của lợi ích lớn của hai nước, của hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và quốc tế để xử lý các vấn đề do lịch sử để lại, các vấn đề nảy sinh thông qua đối thoại, thương lượng hòa bình.

Thực tiễn cũng chứng minh rằng, xây dựng mối quan hệ Việt - Trung "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" thật sự là nguyện vọng chung, là lợi ích lớn của nhân dân hai nước. Quan hệ giữa hai Ðảng, hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc đang phát triển tốt đẹp và chắc chắn sẽ ngày càng phát triển tốt đẹp hơn.

 

Chiến sĩ trên đảo Trường Sa tập luyện sẵn sàng chiến đấu - Ảnh: Thanh niên

Chào cờ đầu tuần trên đảo Trường Sa - Ảnh: Thanh niên

Cánh sóng Trường Sa - Ảnh: Thanh niên

Xây dựng kè chắn cát bảo vệ đảo - Ảnh: Thanh niên

Theo Nhân dân
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Anh hùng Trường Sa

Mở những trang sách về lịch sử hải quân Việt Nam, đọc những dòng tiểu sử để biết về một trong số những người lính giữ đảo Gạc Ma năm 1988 đã được phong anh hùng, tôi mới biết thêm về Nguyễn Văn Lanh, một “Paven” trên Trường Sa.

Gót chân tiên

Nguyễn Văn Lanh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo đông con, một hoàn cảnh điển hình của nhiều gia đình miền Trung nên học đến lớp 7/10, anh đã phải nghỉ học để ở nhà làm ruộng giúp cho kinh tế của gia đình. Tháng 8.1985, Lanh nhập ngũ và sau thời gian huấn luyện, anh về công tác tại Trung đoàn 83 công binh hải quân.

Kỷ niệm ở Trường Sa với Nguyễn Văn Lanh có lẽ là những ngày ở trên boom tại các đảo chìm. Phần lớn thời gian sống và chiến đấu ở quần đảo Trường Sa trong ký ức của anh bây giờ gắn với những kỷ niệm trên boom đó.


Hải quân VN bảo vệ vùng trời, vùng biển của Tổ quốc. Ảnh: Tấn Tú
Cũng có được lên đảo đá Sinh Tồn, để rồi Nguyễn Văn Lanh có hai kỷ niệm không bao giờ quên. Kỷ niệm thứ nhất là một lần được lên đảo để xem văn công. Với những người lính ở ngoài biển ngày đêm chỉ có trời và nước rồi nhìn nhau, thêm nữa đa số họ lại là những người dân quê nghèo, khái niệm văn công lúc nào cũng là những hình ảnh đầy ấn tượng, không chỉ đơn giản là những cô gái biết hát và múa, có lẽ họ là những cô tiên! Nguyễn Văn Lanh vẫn hơi ngượng nghịu khi kể cho tôi nghe rằng anh và một vài cậu bạn lính trẻ khác đã hồi hộp ngắm một cô ca sĩ trong đoàn văn công lên đảo Sinh Tồn năm ấy, để rồi khi cô gái ấy bước qua bãi cát, các anh đã lấy san hô, rào cái vết gót chân con gái in hằn trên cát lại. Dẫu chỉ giữ được gót chân trên cát ấy không quá 2 ngày vì gió, vì sóng theo thủy triều lên nhưng sự nâng niu ấy vẫn còn mãi trong lòng những người lính trẻ năm ấy đến tận bây giờ.

Những lá thư tình và 1 tháng... rửa bát

Quần đảo Trường Sa nằm về phía Đông Nam của biển Đông, gồm trên 100 đảo, đá, bãi cạn, cồn san hô và bãi ngầm. Có một số đảo nổi cố định, có đất, có nước ngọt có thể trồng được cây. Nhưng cũng có nhiều đảo nằm dưới mặt nước biển, chỉ khi triều xuống mới nhô lên khỏi mặt nước. Những năm cuối của thập kỷ 1980, những người lính đóng quân ở đảo chìm nơi đây thường là trên những chiếc boom nổi dập dềnh trên mặt nước. Ở trên đó có chừng một tiểu đội, họ sống, tập luyện và canh giữ phần đất chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.


Chiến sĩ hải quân đón xuân trên đảo trường Sa - Ảnh: Trần Thăng
Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội của mình cũng sống trên chiếc boom như thế. Anh kể lại, thời gian đầu, cảm giác lắc thường xuyên của chiếc boom cũng làm mọi người khó chịu lắm, nhưng riết rồi cũng quen. Sinh ra ở Quảng Bình, nhưng ở vùng rừng, có sông mà không có biển, biết bơi như rái cá từ khi còn nhỏ mà vẫn thấy ngợp trước cái mênh mông của biển cả, mênh mông và vắng lặng có khi cả tuần lễ không bóng một chiếc tàu ngang qua. Niềm vui của lính đảo chìm là việc mong thư người nhà, nhất là thư người yêu. Đang tuổi hẹn hò, nhưng lại sống với chỉ có nhau ở nơi xa xôi thiếu thốn và khó khăn đủ bề, họ hoàn toàn trông cậy vào những hơi ấm hiếm hoi từ đất liền gửi ra. Ai mà nhận được thư người yêu, sẽ phải rửa bát cả tháng trời, thư người nhà là 1 tuần lễ. “Người yêu” đôi khi chỉ là một cô gái nào đó thương mến các anh lính đảo xa, viết những bức thư như chút tình thân của đất liền cho đảo. Có người lính không biết chữ, những người lính còn đùa bằng cách đọc cho anh nghe một lá thư khác mà thay tên anh vào để anh phải rửa bát cả tháng trời. Anh biết bị bạn giỡn nhưng vẫn tình nguyện và vui vẻ rửa bát và họ đã vui đã sống bằng những niềm vui tưởng như đơn giản ấy.

Nguyễn Văn Lanh kể rằng có những lá thư được đọc thuộc không chỉ câu chữ mà từng dấu chấm, dấu phẩy để rồi họ đố nhau khi ngồi người đọc thuộc người soát lỗi. Ai đã từng là học sinh những năm 1980 và 1990 chắc hẳn vẫn còn nhớ những phong trào phát động học sinh sinh viên viết thư cho các chiến sĩ Trường Sa và Hoàng Sa. Hay mục kết bạn trên báo Tiền Phong ngày đó, những người lính đảo bao giờ cũng tha thiết, "mong nhận được thư của các bạn trẻ trên khắp mọi miền Tổ quốc, chia sẻ với chúng tôi những niềm vui mang hơi ấm đất liền!". Tôi cũng như nhiều bạn nữ trẻ, cũng viết những lá thư gửi chung cho các anh, cũng đã nhận được nhiều những bức thư viết chung, nét chữ đẹp, nắn nót bởi chắc các anh đã phải chọn người chữ đẹp nhất viết cho những người ở đất liền như một sự trân trọng.

Người ở đảo không ăn thịt vích


Đại tướng Lê Văn Dũng thăm chiến sĩ đảo Đá Tây, Trường Sa, Khánh Hòa. Ảnh: Anh Phan
Những bữa ăn trên boom cũng có sự cực khổ riêng. Thường là cơm và thịt hộp. Cá là nhiều nhất. Cá nhiều đến mức cứ câu lên lại thả xuống. "Chỉ để cho vui" - Lanh nhắc đi nhắc lại với tôi câu đó. Cá bắt lên thường luộc, ngồi nhậu suông giữa biển và trời. Ăn hoài ngán đến mức ăn không nổi. Thèm rau như thể thèm một cái gì đó quá hoang đường. Đảo chìm, lấy đâu ra đất mà trồng rau? Những người lính trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn, khi mới ra đảo thậm chí họ còn bị phù vì thiếu chất, cá và thịt hộp không đủ chất cho những cơ thể khỏe mạnh. Mỗi ngày tiêu chuẩn cao nhất là 1 lít rưỡi nước cho một người, vì vậy đánh răng rửa mặt là dùng nước biển.

 Biển cả cũng chứa trong lòng nó những nguy hiểm khôn lường. Các anh sợ nhất là những con ốc ở dưới cát, há miệng để ăn và thở, nếu vô tình giẫm phải, chúng khép miệng lại thì thật là một tai họa. Họ đã sống một cuộc sống như thế với niềm an ủi tinh thần là những lá thư, những thức ăn duy nhất là cơm, thịt hộp và cá từ biển. Chiếc máy truyền tin về đất liền chạy bằng sức người, Lanh mô tả là cái máy 15W "tịch tịch tịch tè" phải đạp khoảng 20 phút mới có sóng. Điều gì giúp các anh vượt qua được những gian khổ đó? Lanh bảo: "Là sự xác định ý chí ngay từ khi nhập ngũ cũng như khi tập luyện thôi. Anh lúc nào cũng nghĩ mình đang ở đây, đang giữ mảnh đất thiêng liêng của cha ông, và mình còn trẻ, mình sẽ vượt qua". Kỷ luật quân đội là nghiêm khắc, nên có đồng đội của Lanh đã bị kỷ luật vì có con vích bò lên đẻ trứng trên cát mà không phát hiện ra. Con vích nặng hàng tạ nếu lên bờ trong phiên gác của người lính nào mà không thấy thì người nhái do thám của giặc cũng có thể lên mà không biết. Người lính đảo không ăn thịt vích bao giờ.  Bắt được vích chỉ đùa nghịch một chút, có thể trêu các chú lính mới khi đố họ luộc chín được những quả trứng vích, bởi không bao giờ chín được. Chỉ có thể đập ra rán mới chín mà thôi.

Trận chiến giữ cờ và giữ đảo

Anh hùng Nguyễn Văn Lanh sinh năm 1966 tại Vạn Ninh, Lệ Ninh, Quảng Bình. Anh nhập ngũ tháng 8.1985. Trong trận chiến ngày 14.3.1988, Nguyễn Văn Lanh đã anh dũng bảo vệ lá cờ Tổ quốc trên đảo Gạc Ma trước mũi súng của quân địch. Anh đã bị thương, ngất đi cho đến khi được đồng đội đến cứu. Khi được phong anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Nguyễn Văn Lanh là trung sĩ, Tiểu đội trưởng công binh thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 887, Trung đoàn 83 công binh hải quân.

Ngày 25.2.1988, đơn vị của Lanh nhận nhiệm vụ phòng thủ Trường Sa và đã trực tiếp tham gia chiến đấu trong sự kiện 14.3.1988. Lịch sử của lực lượng hải quân chép về sự kiện này và Nguyễn Văn Lanh như sau: "Sáng ngày 14.3.1988, đồng chí Nguyễn Văn Lanh trong khi cùng đơn vị vận chuyển vật liệu từ tàu HQ 604 lên đảo thì tàu địch đến bao vây, uy hiếp. Tình thế rất căng thẳng. Khi địch đổ quân xuống đảo, ép bộ đội, giật cờ của ta hòng chiếm đảo, theo lệnh của đồng chí Trần Đức Thông, chỉ huy cụm đảo: "Đồng chí nào biết bơi thì bơi ngay vào đảo hỗ trợ cho các đồng chí trên đảo bảo vệ cờ". Nguyễn Văn Lanh cùng 11 anh em khác nhảy ngay xuống biển và bơi vào đảo. Khi đó trên đảo, địch đã nổ súng, đồng chí Trần Văn Phương, người giữ cờ đã hy sinh.

Nguyễn Văn Lanh đã xông đến, bảo vệ cờ, mặt giáp mặt với kẻ thù, đồng chí vẫn bình tĩnh dũng cảm và kiên cường đấu tranh với địch. Khi địch tiến đến giằng cờ, Nguyễn Văn Lanh kiên quyết giữ lại, đôi bên giằng co, địch nhổ xà beng đánh, Lanh né người tránh được. Địch dùng lê đâm, đồng chí tránh nhưng bị sạt qua bả vai. Khi thấy tên sĩ quan địch dùng súng ngắn định bắn, bằng một động tác bất ngờ, Nguyễn Văn Lanh đánh bật khẩu súng trong tay hắn. Địch bên ngoài điên cuồng nổ súng, đồng chí bị thương vào bả vai. Một tên xông tới dí lưỡi lê vào bụng Lanh hăm dọa, bắt hạ cờ. Đồng chí kiên quyết gạt lê ra thì tên địch nổ súng, đạn xuyên qua bả vai trái làm đồng chí mất đà, ngã nhào xuống nước. Đồng đội đã vào tiếp cứu và tiếp tục giương cao cờ Tổ quốc, khẳng định chủ quyền của ta trước mặt kẻ thù.

Khi địch rút ra xa, Nguyễn Văn Lanh được đồng đội tìm kiếm và đưa ra tàu HQ 505 cấp cứu, sau đó được đưa về tuyến sau điều trị. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, đồng chí Nguyễn Văn Lanh đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Văn Lanh đã nêu cao tấm gương sáng về tinh thần dũng cảm kiên quyết chiến đấu mặt giáp mặt với kẻ thù và đã chiến thắng, góp phần giữ vững chủ quyền của Tổ quốc trên đảo Gạc Ma.

Đồng chí Nguyễn Văn Lanh được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất, 3 bằng khen và giấy khen. Ngày 13.12.1989, đồng chí Nguyễn Văn Lanh đã được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân".

Cuộc sống

Và kỷ niệm thứ hai với đảo Sinh Tồn sau kỷ niệm dịu dàng lấy san hô rào vết gót chân con gái kia chính là khi anh bị thương nặng, chuyển về đảo Sinh Tồn, được mổ sơ cứu ở đó rồi theo tàu về bán đảo Cam Ranh để máy bay chở về đất liền vào bệnh viện 175. Chỉ có 2 lần đó trong cuộc đời binh nghiệp ở quần đảo Trường Sa, Nguyễn Văn Lanh được đặt chân lên đất đảo nổi. Cũng từ đó, anh chưa bao giờ có dịp ra biển đảo ngày xưa, chưa có dịp quay lại Gạc Ma hay Sinh Tồn, cũng đã phải quên cái gót chân "tiên" cứ ám ảnh trong đầu người lính đảo xưa kia.

Sau gần 4 năm trời nằm hết bệnh viện quân đội này đến bệnh việc khác 175 rồi 108 rồi 103, Nguyễn Văn Lanh cũng đã có thể ngồi dậy, đã có thể đi lại nhưng sức khỏe chỉ còn lại quá ít. Tỷ lệ thương tật trên 70% đã khiến cho "Paven" Nguyễn Văn Lanh chỉ có thể làm được những việc nhẹ. Anh yếu sức và bất cứ khi nào cũng có thể phải đến viện điều trị. Hỏi anh nhớ gì về những kỷ niệm cũ, bao giờ Nguyễn Văn Lanh cũng nhắc tới những người bạn lính đảo cũ, có nhiều người đã hy sinh để giữ đảo. Thế nên đã gần 20 năm trôi qua sau sự kiện 14.3.1988, Nguyễn Văn Lanh vẫn ở trong quân ngũ nhưng làm nhiều công việc khác nhau. Có lúc anh đã là bảo vệ cho một xí nghiệp may, rồi hiện tại về công tác tại Ban Doanh trại của Bộ Tư lệnh hải quân - Quân đội Nhân dân Việt Nam. 

Đến Bộ Tư lệnh hải quân đúng vào ngày anh vừa được phong quân hàm đại úy, gương mặt xương xương, vóc dáng mảnh khảnh, thật khó mà hình dung con người này đã giữ chặt lá cờ Tổ quốc vào ngày 14.3, bị địch dùng lưỡi lê đâm nhiều nhát lên bả vai trái, trôi trên biển và đã ngất đi trong 3 tháng trời, nằm viện 3 năm rưỡi. Để bây giờ mỗi khi trái gió trở trời, cánh tay bị thương lại trở bệnh, tê liệt anh lại không thể tự đi xe máy, lại phải gặp bác sĩ, lại là một bệnh binh...

Theo TNO



Quốc kỳ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam
Dien dan
Quốc Huy
Huy hiệu Đoàn
 
Bản quyền 2007 thuộc NVHTN dưới sự hỗ trợ hosting của Trung Tâm Truyền Số Liệu Khu Vực 2 ( VDC2). Thiết kế bởi SGC
04 Phạm Ngọc Thạch, Phường Bến Nghé, Q.1, TP.HCM. Điện Thoại: 38.294.345.
Giấy phép số: 384/GP-BC. Chịu trách nhiệm: Ông Bùi Thanh Liêm